Vụ Hồ Duy Hải, cơ sở căn cứ kết tội có gì?

 

Mọi người đã biết rằng Hồ Duy Hải đã bị kết tội ở cả 3 phiên xử sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm. Để đưa ra quyết định như vậy các cơ quan cũng đã dựa vào những cơ sở căn cứ có tính thuyết phục nhất định.

Trong bài hôm nay tôi muốn đi sâu làm rõ xem những cơ sở căn cứ kết tội đó có gì.

Đầu tiên, như mọi người cũng đã biết, cơ sở căn cứ kết tội Hải được cho là dựa vào 25 biên bản lời khai nhận tội.

Trong 25 biên bản đó, một số là bản cung, một số khác là bản tự khai. Các nội dung sẽ bao quát hết các vấn đề vụ án.

Mọi người có thể hình dung việc hỏi đáp các nội dung trong bản cung sẽ làm rõ cụ thể chi tiết diễn biến hành vi gây án, từ việc sát hại nạn nhân cho tới việc tẩu tán tang vật cướp đoạt.

Có thể hiểu là tất cả các khía cạnh của vụ án mà vốn dĩ trách nhiệm của hoạt động điều tra sẽ phải làm rõ đều sẽ được thể hiện trong 25 biên bản tài liệu.

Để hiểu được tác động ảnh hưởng của các tài liệu đó, có thể thấy qua quá trình tôi chia sẻ bài viết vận động minh oan cho Hải, một số người đưa ra những ý kiến buộc tội Hải đã viện dẫn ra rằng:

– Lời khai của Hải về diễn biến gây án thao tác tấn công phù hợp với những dấu vết thương tích trên cơ thể nạn nhân;

– Lời khai của Hải về việc lấy đi những dây chuyền vàng, vòng vàng của nạn nhân phù hợp với lời khai của cha mẹ nạn nhân và những người quen biết nạn nhân. Lời khai nhận trùng khớp với lời khai nhân chứng về kiểu dáng dây chuyền vàng, vòng vàng, lời khai trùng khớp chi tiết chiếc dây chuyền vàng lấy đi bị khuyết chiếc mặt dây chuyền do đã vướng rơi lại ở hiện trường.

– Hoặc lời khai của Hải về việc lấy đi những sim card của bưu điện phù hợp với lời khai của giám đốc bưu điện về số lượng và chủng loại bị mất.

– Hoặc cơ quan điều tra cũng đã xác minh lời khai của chủ cửa hàng vàng phù hợp với lời khai của Hải về địa điểm khu phố và diễn biến cách thức việc mua bán vàng.

Những nội dung như vậy khi chia sẻ với một người bình thường rất dễ tạo ra hiệu quả ấn tượng rằng Hải đúng là thủ phạm.

Không chỉ đối với người bình thường mà ngay cả đối với những người có hiểu biết cao như Đại biểu Quốc hội, hoặc các cán bộ tư pháp tham gia giải quyết xét xử cũng bị thuyết phục.

Đến nay để mọi người hiểu rõ thêm về những cơ sở căn cứ kết tội Hải, tôi chỉ ra những vấn đề thuộc về kĩ thuật pháp lý mà công chúng nhiều người chưa biết.

Nếu biết được các vấn đề kỹ thuật bản chất pháp lý thì từ đó mọi người sẽ có thái độ thận trọng với những lời khai nhận tội.

Đầu tiên, chỉ những điều tra viên, kiểm sát viên, luật sư bào chữa ban đầu, mới là những người thực sự chứng kiến lời khai báo từ miệng Hải nói ra như thế nào.

Còn tất cả những người về sau hầu như chỉ biết đến những tờ giấy có chữ ký của Hải trên đó.

Do không được ghi âm ghi hình cho nên khi nhắc đến “lời khai nhận tội” sẽ dễ gây nhầm tưởng là lời nói nhận tội song thực tế chỉ là các bản giấy chép tay.

Tiếp đến, trong khoa học hình sự lời khai nhận tội bị đánh giá thấp về tính xác thực và bị đặt nghi ngờ cao về độ tin cậy.

Có nhiều lý do khiến các nhà lập pháp đưa ra quy định mang tính phòng ngừa như vậy.

Xuất phát từ bản chất con người, bình thường khi một người làm việc xấu thì họ luôn có xu hướng giấu giếm, đứng trước việc bị quy buộc trách nhiệm con người thường đưa ra lý do để chối bỏ.

Việc nhận tội theo đó trái ngược với bản chất của con người, có thể xảy ra do bị dụ dỗ, bức cung, nhục hình hoặc nhận tội thay che giấu cho người phạm tội khác.

Bởi thế cho nên pháp luật tố tụng hình sự đã đưa ra nhiều quy định ràng buộc đối chứng đối với bằng chứng lời khai.

Đầu tiên việc hỏi cung phải được ghi âm ghi hình lại làm bằng chứng. Đây là quy định chưa có ở thời điểm xảy ra vụ án Bưu điện Cầu Voi vào năm 2008. Chỉ từ khi Bộ luật tố tụng hình sự được sửa đổi năm 2015 mới có quy định về bắt buộc ghi âm ghi hình khi hỏi cung. Nếu vụ việc kêu oan xảy ra ở thời điểm hiện nay thì luật sư bào chữa đã có cơ sở để yêu cầu trưng ra bằng chứng bản ghi âm ghi hình lời khai nhận tội.

Tiếp đến Bộ luật tố tụng hình sự từ năm 2003 đã quy định: “Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án.”

Theo đó những bản khai nhận tội của Hải, dù được cho là trùng khớp với những dấu vết hiện trường, trùng khớp với dấu vết trên tử thi, hoặc khớp với lời khai của nhân chứng khác về những tài sản bị lấy đi. Tất cả những điều đó cũng mới chỉ là điều kiện cần để cho phép coi lời nhận tội của Hải bước đầu là chứng cứ trong vụ án mà thôi.

Tiếp đó Bộ luật tố tụng hình sự từ năm 2003 quy định “Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội.”

Theo quy định này thì 25 biên bản lời khai nhận tội xét về mặt tiêu chuẩn thì đó cũng chỉ là 1 chứng cứ. Để kết luận Hải là thủ phạm cần phải có thêm chứng cứ khác, ví như nhân chứng, vật chứng, tang vật, kết quả giám định cùng cho thấy Hải là thủ phạm.

Trong vụ án này mọi người đã biết là ngoài những biên bản lời khai nhận tội thì không có nhân chứng, vật chứng hung khí, tang vật tài sản, hay kết quả giám định nào cho thấy Hải là thủ phạm.

Luật sư Ngô Ngọc Trai