Hoạt động tư pháp cần lưu tâm tới cảm nhận công lý nơi công chúng

 

Theo dõi quá trình xây dựng Trung tâm tài chính Quốc tế, lần đầu tiên ở Việt Nam đã cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài và thuê thẩm phán nước ngoài trong giải quyết các tranh chấp.

Đó là bước tiến đổi mới thể chế rất mạnh mẽ được kỳ vọng sẽ tạo môi trường thể chế thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư kinh doanh tài chính.

Xin lược lại vài điểm về tiến trình pháp lý đó như sau.

Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Tây Ninh (trước là Trại tạm giam công an tỉnh Long An)

Ngày 27/6/2025 Quốc hội thông qua ban hành Nghị quyết số 222/2025/QH15 về Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, bên cạnh những nội dung mô tả về tổ chức hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế còn có nội dung về cơ chế tài phán giải quyết tranh chấp, trong đó cho phép được lựa chọn áp dụng pháp luật nước ngoài.

Sau đó, thể chế hóa cụ thể hơn các nội dung, ngày 11/12/2025 Quốc hội thông qua ban hành Luật tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế, trong đó có điều khoản về áp dụng pháp luật, cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế theo thỏa thuận của các bên.

Do quá trình xây dựng đề án đã tham khảo mô hình Trung tâm tài chính quốc tế Hong Kong và Singapore, các ban ngành cũng mong muốn kỳ vọng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam sẽ đạt được phát triển thành công như ở Hong Kong và Singapore, những nơi áp dụng theo mô hình thông luật (Common Law), cho nên mới đây báo chí đưa tin thay vì chỉ viết là pháp luật nước ngoài và tập quán quốc tế đã nói rõ hơn là Lần đầu tiên cho phép áp dụng các nguyên tắc của hệ thống thông luật common law và sử dụng thẩm phán quốc tế trong giải quyết tranh chấp.

Câu hỏi đặt ra là: Nếu pháp luật theo thông luật (common law) là hữu ích trong giải quyết tranh chấp dân sự thì cũng mô hình đó có đáng để học hỏi trong xét xử hình sự? Thực tế tư pháp hiện nay của Việt Nam có đặt ra nhu cầu điều chỉnh về mô hình xét xử trong hình sự hay không?

Mọi người biết rằng mô hình thông luật xét xử theo Bồi thẩm đoàn, đây là cách thức xét xử từ xa xưa nước Anh đưa những công dân bình thường tham gia xét xử những vụ án hình sự, Bồi thẩm đoàn gồm 12 công dân sẽ phán quyết có tội hay không, sau đó thẩm phán chuyên nghiệp sẽ quyết định hình phạt. Mô hình này sau đó đã nhân rộng ra nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Canada, Úc, Hong Kong, Singapore là những thuộc địa của Anh khi trước.

Trong khi đó mô hình xét xử hiện tại của Việt Nam được áp dụng theo mô hình Châu Âu lục địa (Civil law), trong đó Hội đồng xét xử gồm thẩm phán chuyên nghiệp và một vài hội thẩm. Những nước áp dụng theo mô hình Châu Âu lục địa Civil law như Pháp, Đức và các quốc gia chịu ảnh hưởng từ các nước này. Trong đó hội thẩm – thẩm phán không chuyên – là những người được bầu theo nhiệm kỳ 5 năm, có hiểu biết về pháp lý xét xử nhưng không được như thẩm phán chuyên nghiệp. Hội đồng xét xử sẽ quyết định về cả tội danh và hình phạt.

Ngoài hai mô hình common law (thông luật Anh) và civil law (châu Âu lục địa) thì trên thế giới còn có những mô hình lai giữa hai hệ thống, điển hình như Nhật Bản và Hàn Quốc.

Ở Nhật Bản, Hội đồng xét xử gồm cả thẩm phán chuyên nghiệp và một số công dân bình thường được lựa chọn luân phiên ngẫu nhiên trong dân chúng. Thành phần hỗn hợp như civil law nhưng lại lựa chọn các công dân ngẫu nhiên giống như common law. Hội đồng xét xử thông thường sẽ gồm 9 người, trong đó có 3 thẩm phán chuyên nghiệp và 6 công dân, quyết định về cả tội danh và hình phạt.

Ở Hàn Quốc, là nước phát triển tư pháp đi sau, một mặt cũng muốn đưa ý chí của người dân vào hoạt động xét xử, song do cảm thấy năng lực pháp lý của dân chúng còn hạn chế cho nên họ đưa ra một biến thể mới, cho phép bồi thẩm đoàn gồm những công dân được lựa chọn ngẫu nhiên tham gia xét xử, nhưng phán quyết của bồi thẩm đoàn đưa ra chỉ có tính chất tư vấn, không bắt buộc. Tùy theo tính chất nghiêm trọng của vụ án, bồi thẩm đoàn có thể là 5, 7 hoặc 9 công dân. Một thẩm phán chuyên nghiệp sẽ tiếp nhận quyết định từ bồi thẩm đoàn, có thể giữ nguyên phán quyết hoặc nếu tuyên khác thì sẽ phải giải thích rõ lý do.

Trừ mô hình Châu Âu lục địa (Civil law) thì các mô hình còn lại đều dành quyền xét xử cho những công dân bình thường, đưa ý chí nhận thức của người dân thành niềm tin công lý. Bằng cách đó đảm bảo nhận thức hiểu biết về khung khổ giá trị luân lý giữa những người xét xử và người bị xét xử là như nhau, có như thế kết quả mới tạo thành niềm tin công lý chung. Bởi vì niềm tin công lý dù sao cũng phụ thuộc vào trình độ nhận thức, nền tảng văn hóa, phạm trù đạo đức, tập quán thói quen của mỗi khu vực địa lý và giai tầng.

Vậy thì điều đó có quan trọng gì với thực tế Việt Nam hiện nay?

Hiện nay mô hình xét xử của Việt Nam dường như không thay đổi từ mô hình Châu Âu lục địa Civil law đã tiếp nhận từ người Pháp trước đây, hội đồng xét xử vụ án sơ thẩm gồm một thẩm phán và hai hội thẩm, phúc thẩm thì có hai thẩm phán và ba hội thẩm. Trong đó hội thẩm là một danh sách giới hạn những người được bầu theo nhiệm kỳ 5 năm có hiểu biết pháp lý tốt hơn công chúng bình thường nhưng lại không được đào tạo như thẩm phán chuyên nghiệp.

Mô hình xét xử đó chưa trao cho các công dân bình thường tham gia vào xét xử và duy trì một hội đồng xét xử với số ít thành viên.

Thiết nghĩ, trong xu thế phát triển của kinh tế xã hội hiện nay, trong khi trình độ hiểu biết nhận thức pháp lý của người dân tăng lên, theo đó ý chí nhận thức pháp lý của công chúng càng cần được đề cao coi trọng hơn trong các phán quyết.

Mở rộng ra, không chỉ phán quyết của tòa mà cả các quyết định của cơ quan điều tra và viện kiểm sát, không chỉ trong lĩnh vực tư pháp mà cả trong hành pháp, các quyết định thay vì chỉ đơn điệu là hoạt động của quyền lực thì cần chú trọng nhiều hơn tới cảm thức công lý nơi công chúng.

Điều này là đáng chú ý bởi thực tế nhìn lại lâu nay thì thấy có nhiều trường hợp phán quyết đưa ra trái ngược với nhận thức pháp lý của công chúng.

Kinh tế phát triển đưa tới sự gia tăng hiểu biết pháp lý nơi công chúng

Lấy ví dụ những sự kiện mà đông đảo mọi người biết để dễ hình dung. Ví như vụ tai nạn giao thông ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long mà báo chí đưa tin năm ngoái, một xe ô tô đã tông chết một cháu bé học sinh. Cơ quan điều tra trong trường hợp này quy lỗi gây tai nạn nguy hiểm cho cháu bé khiến bố cháu bất bình nổ súng bắn tài xế ô tô, sau đó tự sát. Nói một cách thẳng thắn thì cơ quan tư pháp đã quyết định sai, còn nói cho phù hợp với tinh thần của bài viết thì trường hợp này nhận thức pháp lý của người dân liên quan đã bị xem nhẹ.

Cho đến khi sự việc được báo chí đưa tin, hình ảnh hiện trường cho thấy lỗi thuộc về tài xế ô tô, sự việc thu hút sự chú ý bàn luận của giới pháp lý và công chúng, song việc xử lý tiếp theo về hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp dù đã được xem xét nhưng vẫn chậm chạp, cho thấy cảm thức công lý của công chúng kém được coi trọng.

Một ví dụ khác, trong vụ án Hồ Duy Hải, bằng chứng dấu vân tay của Hải không trùng khớp với dấu vân tay của nghi phạm thu được ở hiện trường, đó rõ ràng là bằng chứng cho thấy Hải không phải thủ phạm.

Bằng chứng dấu vân tay có tính khoa học khách quan, không trùng khớp khiến người bình thường cũng nghĩ là vô tội, trong vụ án cũng đã có 144 người trước đó được so sánh dấu vân tay khi không trùng khớp đã được loại bỏ ra khỏi vòng điều tra. Việc kết tội như thế trong bối cảnh bị cáo kêu oan nhiều năm đã trái ngược với niềm tin nhận thức pháp lý của công chúng.

Cảm thụ được công lý sẽ là điều đem lại cảm giác cuộc sống an toàn bình yên hạnh phúc. Và công lý hiển lộ khi nhận thức ý chí của công chúng được phản ánh trong pháp luật nói chung và trong các quyết định.

Để làm được điều đó thì một trong những việc nên làm cho nền pháp lý quốc gia là cân nhắc điều chỉnh mô hình xét xử, tiến tới cho phép những công dân bình thường tham gia vào hoạt động xét xử.

Đó sẽ là bước phát triển tư pháp học hỏi theo mô hình hệ thống thông luật Common Law, tương đồng với những gì đang làm để kỳ vọng đưa tới phát triển cho Trung tâm tài chính quốc tế.

Luật sư Ngô Ngọc Trai