Pháp lý về luật sư cần phù hợp với nội dung định hướng của Nghị quyết 66

 

Năm 2025 Ban chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 66 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, trong đó có những nội dung chỉ đạo quan trọng xin được trích dẫn ra đây:

“Mục tiêu, đến năm 2030 Việt Nam có hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch.”

“Tầm nhìn đến năm 2045: Việt Nam có hệ thống pháp luật chất lượng cao, hiện đại, tiệm cận chuẩn mực, thông lệ quốc tế tiên tiến và phù hợp với thực tiễn đất nước, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội;”

“dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”; phát huy dân chủ, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; bảo đảm sự cân đối, hợp lý giữa mức độ hạn chế quyền với lợi ích chính đáng đạt được. Các quy định của luật phải mang tính ổn định, đơn giản, dễ thực hiện, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm. Phát huy đúng mức vai trò của đạo đức xã hội, các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc tự quản cộng đồng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội.”

Với các nội dung chỉ đạo như trên đối chiếu với dự thảo quy định pháp lý về luật sư hiện nay thì thấy.

Nghị quyết 66 coi trọng việc xây dựng pháp luật theo hướng dân chủ, tiệm cận chuẩn mực thông lệ quốc tế. Đây là chỉ đạo đúng đắn rất cần được các ban ngành quán triệt thực hiện trong khi xây dựng pháp luật.

Với hoạt động xây dựng pháp luật liên quan đến luật sư hiện nay, nếu so sánh sẽ thấy có một khoảng cách khá xa giữa quy định hiện tại và chuẩn mực quốc tế.

Năm 1990 một bộ các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư đã được thông qua tại Hội nghị lần thứ tám về Phòng chống tội phạm và xử lý người phạm tội của Liên Hợp Quốc, họp tại Havana, Cuba, từ ngày 27/8 đến 7/9/1990. Đây được coi là điều ước quốc tế về quyền của luật sư.

Tại mục thứ 8 của Điều ước quốc tế ghi rằng:

“8. Tất cả những người bị bắt, giam hay cầm tù phải được tạo ra các cơ hội, thời gian và phương tiện đầy đủ để luật sư đến thăm, và được trao đổi hay tư vấn hoàn toàn riêng với luật sư không chậm trễ, không bị theo dõi hay kiểm duyệt. Những cuộc tiếp xúc hay tư vấn như vậy, có thể được tiến hành trong tầm nhìn, nhưng không trong tầm nghe của các nhân viên thi hành luật pháp.”

Thực tế lâu nay luật sư bào chữa trong vụ án hình sự còn gặp nhiều khó khăn trong việc gặp gỡ làm việc khi bị can bị tạm giam. Khi vụ án còn đang trong giai đoạn điều tra Luật sư khó được gặp làm việc riêng với bị can. Các buổi gặp làm việc thường là luật sư tham gia cùng các buổi hỏi cung của điều tra viên.

Trường hợp vụ án đã kết thúc điều tra rồi thì luật sư gặp bị can song cũng ít khi được gặp riêng mà thường có một nhân viên quản giáo cùng ngồi nghe giám sát cuộc trao đổi.

Như thế là thực tiễn hiện nay chưa được như “Những cuộc tiếp xúc hay tư vấn như vậy, có thể được tiến hành trong tầm nhìn, nhưng không trong tầm nghe của các nhân viên thi hành luật pháp.”

Hoặc ví dụ Điều ước quốc tế rất coi trọng việc giữ bí mật nội dung trao đổi giữa luật sư và bị can, coi đó như là điều kiện tiên quyết để tạo ra quan hệ tin cậy, đảm bảo hiệu quả cho hoạt động bào chữa.

Tại mục 22 quy định: “Các chính phủ cần công nhận và tôn trọng rằng, tất cả các trao đổi và tư vấn giữa luật sư và khách hàng trong mối quan hệ nghề nghiệp của họ đều được giữ bí mật.”

Mới đây cơ quan dự thảo sửa đổi Bộ luật hình sự lại đưa ra ràng buộc trách nhiệm luật sư phải tố cáo khi biết bị can đang chuẩn bị hoặc sắp thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ giết người, mua bán ma túy).

Điều này vừa không hợp lý trong thực tế, vừa đi ngược lại thông lệ quốc tế. Bởi lẽ chỉ lời nói của bị can trong lúc trao đổi luật sư không thể xác quyết được bị can chắc chắn sẽ thực hiện hành vi phạm tội mà đi tố cáo.

Ví dụ một lời bị can nói thể hiện sự bức xúc trong lúc trao đổi với luật sư (tôi sẽ đi tìm giết nó), làm sao luật sư biết được đó chỉ là lời nói bức xúc hay bị can sẽ đi gây án thật.

Nghị quyết 66 có quan điểm “bảo đảm sự cân đối, hợp lý giữa mức độ hạn chế quyền với lợi ích chính đáng đạt được”. Việc xây dựng pháp luật cũng cần đứng trên mảnh đất thực tiễn. Song chưa thấy cơ quan chuẩn bị dự thảo đưa ra dữ liệu thống kê đánh giá về những vụ phạm tội xảy ra do luật sư không tố giác.

Nếu có số liệu về số vụ và hậu quả thì nội dung đề xuất sẽ rõ ràng thuyết phục hơn. Trường hợp không có số liệu thống kê thì việc hạn chế quyền của luật sư là có thật trong khi lợi ích chính đáng đạt được lại chưa rõ ràng.

Qua báo chí chỉ biết cơ quan dự thảo cho rằng đưa ra quy định như thế để cân đối giữa đạo đức nghề nghiệp, nghĩa vụ bảo mật thông tin của luật sư với trách nhiệm bảo vệ an toàn xã hội và ngăn chặn tội phạm từ sớm.

Thiết nghĩ, có thể làm như các nước. Các nước họ quy định tôn trọng quyền bảo mật của luật sư. Song để bảo vệ quyền lợi xã hội trước nguy cơ xâm hại thì họ trao cho luật sư quyền được trình báo về hành vi phạm tội của bị can sắp thực hiện (ví như khủng bố). Thì đó là họ trao quyền cho phép luật sư được nói ra mà không bị cho là vi phạm nghĩa vụ bảo mật.

Quy định như thế nên được ghi nhận ở bộ quy tắc ứng xử đạo đức nghề nghiệp luật sư (nên biết luật sư là một trong số rất ít nghề nghiệp trong xã hội có bộ quy tắc đạo đức ứng xử nghề nghiệp, với nghề khác cũng có như bác sĩ).

Khi ghi nhận ở bộ quy tắc đạo đức ứng xử nghề nghiệp, vừa là tạo cơ chế cho việc ngăn ngừa hành vi nguy hại nhưng vẫn đảm bảo tôn trọng nguyên tắc nền tảng về bảo mật, phù hợp với quan điểm của Nghị quyết 66 về Phát huy đúng mức vai trò của đạo đức xã hội, các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc tự quản cộng đồng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Luật sư Ngô Ngọc Trai