Khảo luận (Phần 2): Về vai trò của nền tư pháp trong thúc đẩy kinh tế

Tài sản lưu thông mới tạo ra giá trị, muốn lưu thông được thì phải rõ ràng về chủ quyền sở hữu.

Một thực trạng xấu đối với nền tư pháp lâu nay là thời gian giải quyết các vụ án tranh chấp thường bị kéo dài. Hầu hết các vụ án thường bị mất thời gian để giải quyết lâu hơn cần thiết, khiến người dân và doanh nghiệp mất nhiều thời gian công sức. Một trong những nguyên nhân của vấn đề này là mức lương của cán bộ tòa án hiện còn thấp.

Việc dây dưa kéo dài là một hình thức sách nhiễu làm tiền đương sự, để nâng cao tinh thần trách nhiệm cho cán bộ tòa án thì cần nâng cao mức lương cho họ. Bởi một khi còn phải vướng bận lo toan cho các chi tiêu đời sống gia đình, họ sẽ không thể vô tư, thay vào đó họ cài gắn lợi ích của mình vào việc giải quyết các vụ án. Ngân sách nhà nước cần cân đối các khoản chi, dành một mức cao hơn cho ngành tư pháp. Bằng cách rút bớt khoản chi cho các hội đoàn hoạt động không rõ tính thiết thực, hoặc dừng việc chi tiêu đầu tư cho các dự án công trình chưa thực sự cấp thiết.

Việc kéo dài thời gian giải quyết các vụ án dân sự dẫn đến những thiệt hại lớn cho nền kinh tế mà lâu nay chưa được nhận ra và tính toán thống kê. Một cuốn sách đã lưu hành rộng trên thế giới và đã được dịch xuất bản ở Việt Nam có tiêu đề ‘Sự bí ẩn của tư bản’, tiêu đề phụ là Vì sao chủ nghĩa tư bản thành công ở Phương Tây và thất bại ở mọi nơi khác?

Nội dung cuốn sách đã nhận định rằng: Sự thành công của các nền kinh tế tư bản Phương Tây là do khả năng xác lập rõ ràng minh bạch chứng từ về tài sản rồi đưa vào lưu thông. Tài sản khi không được lưu thông sẽ không tạo ra giá trị, khiến cho nền kinh tế không thể phát triển. Mà tài sản chỉ có thể được đưa vào lưu thông khi nó được chứng từ hóa, tức là có thông số dữ liệu biểu đạt, ví như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà, xe ô tô, hoặc cổ phiếu.

Khi tài sản được biểu đạt qua những chứng từ đó sẽ giúp nó có hồ sơ như hồ sơ cá nhân, có thể đưa vào cầm cố thế chấp hoặc chuyển nhượng. Tạo ra sự lưu thông rộng khắp của tài sản. Muốn được như vậy thì tài sản cần được xác lập rõ ràng về chủ quyền sở hữu, xem ai sở hữu tài sản gì. Khi tài sản chậm được xác lập rõ ràng về chủ quyền sở hữu thì đương nhiên sẽ bị hạn chế ở khâu lưu thông.

Từ luận điểm trên đối chiếu với thực tế Việt Nam thì thấy:

Ở Việt Nam lâu nay luôn tồn tại một khối lượng rất lớn tài sản chậm được phân định rõ ràng về chủ quyền sở hữu và do đó chậm được đưa vào lưu thông vì lý do nó còn nằm trong giai đoạn tố tụng dân sự giải quyết tranh chấp ở tòa án. Rất nhiều tài sản được cầm cố, thế chấp hoặc tiền vay lẫn nhau, vay ngân hàng, hoặc các khối tài sản tranh chấp giữa những người dân và doanh nghiệp, đã rất chậm trễ trong việc phân định rõ ràng chủ quyền sở hữu.

Lý do như trên đã chỉ ra đó là thời gian giải quyết một vụ án dân sự thường bị kéo dài. Nhiều dự án sản xuất kinh doanh bị ngưng trệ vì phải đợi tòa án phân định về chủ quyền sở hữu tài sản. Nhiều khối tài sản có vướng mắc tranh chấp nhưng các đương sự còn không thèm đưa ra tòa giải quyết vì không tín nhiệm vào giải pháp tòa án, họ sợ sẽ mất thêm thời gian công sức tiền bạc. Sự yếu kém của tòa án là chướng ngại lớn cho việc bạch hóa về chủ quyền sở hữu, khiến tài sản chậm được đưa vào lưu thông. Và tài sản không được lưu thông thì không tạo ra giá trị, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế.

Đây là vấn đề nghiêm trọng đối với nền kinh tế mà lâu nay đã không được nhận ra và tính toán thống kê thiệt hại.

II/ NỀN TƯ PHÁP HÌNH SỰ NẶNG TÍNH CHUYÊN CHẾ GÂY HẠI CHO CỘNG ĐỒNG DOANH NGHIỆP VÀ DOANH NHÂN

Nền tư pháp cần kiến tạo ra môi trường pháp lý thân thiện thuận lợi cho phát triển kinh tế. Nhưng lâu nay nền tư pháp đã giúp kiến tạo ra môi trường pháp lý thân thiện cho phát triển kinh tế hay chưa?

Đâu là vấn đề nghiêm trọng nhất của nền tư pháp hình sự?

Hôm 28/10/2016, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa 14, Bộ trưởng Bộ công an đã báo cáo trước Quốc Hội về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật năm 2016. Theo đó số liệu thống kê cho biết năm 2016 đã khởi tố mới trên 70.430 vụ án với hơn 102.441 bị can.

Trước đó, về tình hình tội phạm năm 2015 số liệu tổng hợp cũng cho biết đã xử lý khoảng 77 nghìn vụ án với hơn 100 nghìn nghi phạm hình sự năm 2015.

Các con số tội phạm đó rất lớn, cho thấy tình trạng tội phạm trong xã hội rất nghiêm trọng. Vấn đề đặt ra là làm sao để việc xử lý tội phạm đảm bảo được công lý. Tức là phải làm sao để việc xử lý tội phạm giúp tạo ra được môi trường an toàn, đem lại bình yên cho nhân dân. Chứ đừng để việc xử lý tội phạm với những bất cập tai hại của nó lại là nguyên nhân góp phần gây thêm lên tình trạng phạm tội.

Ở một diễn biến khác, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 lần đầu tiên đã đưa vào sử dụng hai từ Công lý mà trước đó không có. Theo đó nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự ngoài mục tiêu cũ như không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội thì có thêm mục tiêu mới bảo vệ Công lý.

Vậy tại sao bây giờ lại phải thêm vào mục tiêu bảo vệ Công lý? Trước đó đặt mục tiêu không bỏ lọt, không làm oan vẫn chưa đủ hay sao? Có thể hiểu thế này, nếu mục tiêu chỉ là xử lý đúng người đúng tội thì vẫn có khả năng người ta bất chấp phương thức thủ đoạn để xử lý tội phạm mà theo đó không có công lý. Ví như quá trình điều tra xử lý án xảy ra tình trạng lạm quyền bạo hành thông qua các hoạt động lạm dụng bắt bớ, giam giữ kéo dài, đánh đập bức ép buộc phải khai báo và và đời sống nghiệt ngã khổ sở trong môi trường giam giữ. Tất cả những yếu tố này khiến con người bị hủy hoại nhân phẩm, làm mất niềm tin vào sự nghiêm chính của pháp luật và cơ quan công quyền.

Trong khi đó, đừng quên rằng hầu hết các tội phạm sau khi mãn hạn tù họ lại trở về với đầy đủ quyền công dân. Vậy với kinh nghiệm đã trải qua và ký ức lưu giữ liệu họ có còn tín nhiệm vào nền tư pháp? Hay họ đã trở lên táo tợn liều lĩnh, khinh thường những giá trị trật tự xã hội và thù địch với trật tự công quyền?

Trong khi cả nước mỗi năm có hàng trăm nghìn người vướng vào vòng tố tụng hình sự, việc họ còn hay mất niềm tin vào nền tư pháp công chính là rất quan trọng để giữ trật tự xã hội và kiến tạo môi trường pháp lý an toàn. Đằng sau hàng trăm nghìn con người đó lại có hàng trăm nghìn gia đình và người thân, họ sẽ kể lại cho nhau nghe những câu chuyện và truyền cho nhau những kinh nghiệm. Vậy liệu những câu chuyện và kinh nghiệm của họ sẽ vun đúc hay hủy hoại sự nghiêm chính của nền tư pháp?

Hiện chưa có nghiên cứu khoa học nào phân tích đánh giá về mối liên quan giữa tình trạng bạo quyền xâm phạm nhân phẩm trong vòng tố tụng hình sự và tình trạng tội phạm. Tuy vậy có thể nhận định là giữa chúng có mối liên quan và có mối quan hệ nhân quả với nhau.

Thực tế lâu nay, vì chỉ coi trọng xử lý tội phạm cho nên đã xảy ra tình trạng xem nhẹ quyền công dân làm mất đi giá trị công lý. Quá trình điều tra giải quyết án hình sự với những lạm dụng bất cập đã gây thêm ra tình trạng bạo lực và tội phạm. Nhận thức được vấn đề cho nên Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã được Quốc hội bổ sung thêm mục tiêu bảo vệ Công lý, và để thực hiện được mục tiêu này luật cũng đã tiếp thu đưa vào một số chế định mới như quyền im lặng, ghi âm ghi hình khi hỏi cung bị can và vai trò lớn hơn của luật sư bào chữa. Những chế định mới này là nhằm ngăn ngừa tình trạng lạm quyền và bạo hành khiến cho việc xử lý tội phạm tuy đúng người đúng tôi nhưng vẫn không có công lý như đã nói ở trên.

Những chế định mới sẽ giúp bảo vệ nhân phẩm con người trong suốt quá trình điều tra xử lý tội phạm, giảm tránh những lạm quyền bất chấp phương thức thủ đoạn. Vì việc điều tra xử lý tội phạm xét cho cùng cũng chỉ là phương tiện nhằm đạt đến mục tiêu bảo vệ các quyền công dân, cho nên phương tiện không được chống lại mục tiêu hướng đến. Việc điều tra xử lý tội phạm phải tuân theo những chuẩn mực giá trị không được đi ngược lại mục tiêu bảo vệ dân quyền.

Những chế định mới về quyền im lặng, ghi âm ghi hình khi hỏi cung, và vai trò lớn hơn của luật sư bào chữa sẽ giúp ngăn chặn cái dễ xảy ra nhất trong hoạt động điều tra đó là đánh đập bức bách phải khai báo. Bởi vì ‘cái điều dễ xảy ra nhất trong hoạt động điều tra’ đó, nó làm tiêu ma luôn mục đích ý nghĩa của hoạt động xử lý tội phạm là bảo vệ dân quyền. Và nó gây ra hệ lụy xấu cho xã hội, vì hãy thử hình dung xem cái cơ chế tư pháp kiểu đó sẽ cung cấp cho xã hội các công dân kiểu gì, hay làm tha hóa họ?

Cho nên đứng trước số liệu về thực trạng tội phạm trong xã hội hiện nay, cần nhận ra được vấn đề nghiêm trọng nhất của nền tư pháp hình sự là gì. Đó không phải là vấn đề án oan hay vấn đề bỏ lọt tội phạm, mà đó là tình trạng lạm quyền và bạo hành ẩn chứa trong hàng chục nghìn vụ án hình sự bình thường mỗi năm, với hàng trăm nghìn nghi can hình sự. Tình trạng lạm quyền và bạo hành khiến cho việc xử lý tội phạm tuy đúng người đúng tội nhưng vẫn không có công lý. Và nó khiến cho việc xử lý tội phạm với những bất cập tai hại của nó lại là nguyên nhân gây thêm lên tình trạng bạo lực và tội phạm trong đời sống xã hội.

Điều này đòi hỏi những khoản phí tổn kinh tế lớn để ngăn chặn khắc phục và không giúp kiến tạo môi trường xã hội an toàn cho tài sản công dân, làm đen bẩn môi trường đầu tư và phát triển kinh tế đất nước.

(Còn tiếp)